BẠCH LIÊN

BẠCH LIÊN

BẠCH LIÊN

Ni trưởng Bạch Liên thế danh Võ Thị Hiến, sinh ngày 17/11/1924 tại Láng Cò, nay là ấp 4, xã Mỹ An, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Ni trưởng là con trưởng trong một gia đình thâm Nho, đạo đức, sống chuyên nghề nông nhiều đời. Thân phụ là cụ ông Võ Văn Tý đã qua đời vào năm 1955. Thân mẫu là cụ bà Ngô Thị Đường pháp danh Truyền Ngọc cũng đã từ trần vào năm 1996 tại Tịnh xá Ngọc Chơn, Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 92 tuổi. Ông bà cụ có 9 người con, 4 trai và 5 gái.

Vốn sẵn có thiện duyên nhiều kiếp, nên Ni trưởng sớm trực nhận được lý vô thường, cảnh trần ảo mộng, huyễn hư, và hết lòng sùng kính ngôi Tam Bảo. Thuở thiếu thời Ni trưởng đã tiếp nhận nếp sống Nho phong đạo đức, nên có nhiều đức lành đáng quý. Nhất là Ni trưởng thường về lễ Phật, trì kinh tại chùa Long An ở Láng Cò, được bà Ba Ban Hộ Tự thương mến hướng dẫn và giới thiệu vào Ban Hộ Niệm Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học. Từ đó, Ni trưởng được dịp đi tụng kinh cầu an, cầu siêu nhiều nơi với hội, được huân tập nhiều công đức lành, trưởng dưỡng đức trí.

Năm Ni trưởng 18 tuổi (1942), tại Chùa sắc tứ Long Hội Tự (còn gọi Chùa Xóm Chuối), làng Tân Hòa Thành, quận Bến Tranh, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang), Ni trưởng đã được Hòa thượng Viện chủ Thích Hoằng Thông tế độ xuất gia và trao truyền giới pháp Sa-di Ni với pháp danh Nhuận Cung, tự Diệu Phụng.

Dưới sự hướng dẫn tu tập 5 năm của Hòa thượng Bổn sư, Ni trưởng vẫn không sờn lòng, chỉ mong tròn hạnh nguyện, tâm hằng nhẫn nhục kiên trung, thản nhiên, lo trau dồi đạo hạnh, lại còn khéo tự sắp xếp thời khóa riêng cho mình để nỗ lực tiến tu cho tăng phần tâm đức.

Năm 1946, vì nạn khói lửa chiến tranh danh lợi, đốt phá núi rừng làm cho người tu không chỗ ở, lại thêm nạn cướp bóc, không cho người tu hiền làm việc nuôi thân sống tạm, nên đức Tổ sư Minh Đăng Quang phải rời khỏi xứ Cao Miên trở về Việt Nam thực hành giới luật Tăng đồ nhà Phật tại làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho. Nhờ duyên lành đó mà Ni trưởng đã được gặp đức Tổ sư. Lại thêm một đại nhân duyên là Ni trưởng Huỳnh Liên cùng cô em gái và thân mẫu thường bơi thuyền đến nghe đức Tổ sư thuyết pháp tại Linh Bửu Tự. Sau khi nghe, Ni trưởng Huỳnh Liên ngộ pháp nên liền bước ra quỳ xin xuất gia. Đức Tổ sư dạy: “Tín nữ phải tìm thêm bạn đồng hành, đủ 4 vị Thầy mới nhận.”. Ni trưởng Huỳnh Liên liền tìm đến Chùa sắc tứ rủ 2 Ni trưởng về cùng xuất gia theo Giáo pháp Khất Sĩ của đức Tổ sư. Liền đó 2 Ni trưởng đã đến xin với Hòa thượng Bổn sư, được Hòa thượng đồng ý.

Thế là ba vị cùng với một sư cô lớn tuổi đã đến gặp đức Tổ sư Minh Đăng Quang, được đức Tổ sư làm lễ thế phát, trao truyền giới pháp y bát Khất Sĩ làm Tỳ-kheo Ni và thọ ký pháp danh: Huỳnh Liên, Bạch Liên, Thanh Liên và Bửu Liên, tại Linh Bửu Tự, vào ngày 1 tháng 4 năm Đinh Hợi 1947. Cả ba Ni trưởng đều được truyền thừa mạng mạch Phật pháp, nối chí đức Tổ sư tu học, hành đạo, tiếp độ chúng Ni và hướng dẫn chúng sanh hồi quy Phật pháp.

Kể từ đó, Ni trưởng được trực tiếp học đạo, nghe pháp nơi đức Tổ sư qua những bài pháp Chơn lý thật sống và lo rèn luyện ý chí, trau dồi phẩm hạnh hầu khai thị pháp thân, huệ mạng, để rồi tuyên dương giáo pháp Phật-đà.

Sau khi xuất gia tu học theo giáo pháp của đức Tổ sư và nhận sự ủy thác tiếp độ chúng Ni, làm sứ giả Như Lai, Ni trưởng ý thức trách nhiệm thượng cầu hạ hóa, khai thông dòng pháp Ni lưu. Hương giới bay xa, đạo tâm xán lạn, Ni trưởng là một thạch trụ của Ni giới Khất Sĩ, làm sáng gương Thánh đức Kiều-đàm.

Năm 1954 đức Tổ sư vắng bóng. Quý Ni trưởng đã kết đoàn du phương hành đạo miền Trung, qua khắp các tỉnh thành, quận huyện, khi trung thổ, lúc cao nguyên, rồi trở về Sài Gòn, xuôi ngược sông Tiền, sông Hậu… thể nhập trong biển cả đại đồng của chư Phật Như Lai, thực hiện bổn hoài của đức Tổ sư, triển khai huệ trí, nỗ lực gióng trống Pháp, chuyển xe Pháp, thiết lập đạo tràng tiếp độ chúng sanh, giáo dưỡng mầm non Bồ-đề của chúng Ni và Phật tử!...

Ở miền Nam, thành quả vẻ vang nhất của Ni trưởng đáng được xưng tụng là công khai phá rừng hoang ở Thủ Dầu Một, thành lập ngôi Tịnh xá Ngọc Bình vào năm 1954.

Điểm nổi bật nhất của Ni trưởng là kể từ năm 1958, ôm hoài bão tiếp chúng độ sanh ở miền Trung, Ni trưởng đã dũng mãnh dong thuyền giác khắp nông thôn, phố thị miền Trung, từ Thuận Hải đến Quảng Trị, không nơi nào không có dấu chân hành đạo của Ni trưởng.

Theo bước chân của Ni trưởng, các tịnh xá hình bát giác đã thi nhau dựng lên trên khắp miền Trung, song song với sự hành đạo của Ni trưởng Huỳnh Liên, của quý Ni trưởng và chư Ni trong miền Nam.

Năm 1965, đoàn du hành dừng chân trên vùng đất Buôn Ma Thuột, đi hóa duyên, trưa ngồi độ ngọ dưới gốc cây. Ni trưởng Huỳnh Liên đề nghị Ni trưởng và Ni sư Tốn ở lại để lần hồi tìm cất Tịnh xá.

Lúc này Ni sư Tốn nặng lòng lo lắng cho cha và kế mẫu của mình đang sinh sống trên đất khách, quê người quá vất vả. Hiểu được nỗi lòng hiếu tử của Ni sư, Ni trưởng liền cho Ni sư về Sài Gòn, một mình ở lại gánh vác Phật sự, bắt tay xây dựng Tịnh xá Ngọc Thành, tuy đơn sơ nhưng trải biết bao công trình gian nan.

Sau đó, Ni trưởng về khẩn đất khai hoang nơi đèo Dủ Dỉ để lập nông trại. Ni trưởng thường tự thân cần cù lao động cùng với Ni chúng, ngày lại ngày một nắng hai sương phơi thân trên 24 mẫu đất giữa núi rừng xanh thẳm, mong có đủ phương tiện giáo dưỡng cô nhi và giúp người đau khổ, không kể thân sơ, không phân lương giáo. Chính Ni trưởng đã tự tay trả lương rất hậu cho đồng bào thất nghiệp quanh vùng đến góp phần lao động…

Đến năm 1972, Ni trưởng khởi công xây dựng Tịnh xá Ngọc Ninh ở đường Ngô Gia Tự, thị xã Phan Rang. Thuở ấy, đất nước còn trong thời kỳ chiến tranh gian khổ, nên Ni trưởng đã đứng ra thành lập Cô Nhi Viện Ngọc Ninh, để tiếp nhận nuôi dưỡng trẻ bất hạnh mồ côi. Việc làm đó của Ni trưởng đã xoa dịu biết bao nhiêu hoàn cảnh đau thương. Chính nơi Tịnh xá Ngọc Ninh này đã ghi lại bao ấn tích công hạnh lớn lao của Ni trưởng.

Sau ngày giải phóng, Ni trưởng đã giao 24 mẫu đất ở đèo Dủ Dỉ cho nhà nước quản lý, chuyên tâm lo Phật sự cho giáo hội, cho Tịnh xá Ngọc Ninh và các nơi.

Về hạnh tu, Ni trưởng rất nghiêm túc, giới luật kỷ cương. Xưa Ni trưởng là Phó Ban Trị Sự của Giáo hội Liên Hoa Khất Sĩ Việt Nam, sau này là Trưởng Ban Giám Luật của Ni giới Hệ phái Khất Sĩ.

Bên cạnh việc tu hành phạm hạnh và lãnh đạo chúng Ni, Ni trưởng còn hay sáng tác thơ văn, đặc biệt là khả năng xuất khẩu thành thơ trong những lúc lao động hay tiếp xúc với mọi người. Ni trưởng đã lưu lại cho đời một số bài thơ Đường, bài Bát cú dạng ngẫu hứng và một số bài Song thất lục bát, Thất ngôn trường thiên, Phú, Vè, Văn tế… Những bài thơ văn của Ni trưởng đều có văn nghĩa rõ ràng, giản đơn dễ hiểu, gửi gắm bổn hoài, gắn bó tâm hồn cùng đạo pháp và quê hương. Ni trưởng cũng rất chú trọng đến việc đào tạo nhân tài kế thừa, nên đã thường xuyên ủng hộ trường Phật học ở Phan Rang và các nơi…

Đối với xã hội, Ni trưởng thường tổ chức những cuộc ủy lạo cứu giúp đồng bào thiên tai lũ lụt, đói nghèo, người già neo đơn, cô nhi quả phụ và dân tộc thiểu số vùng Tây nguyên, sơn cước.

Đối với mẫu thân, Ni trưởng đã nêu gương hiếu hạnh ngàn vàng cho Ni chúng và Phật tử noi theo.

Nhằm trang nghiêm ngôi Tam Bảo, Ni trưởng cùng Ni trưởng Huỳnh Liên và quý Ni trưởng lãnh đạo Ni giới Khất Sĩ đã nỗ lực chung vai đấu cật suốt mấy mươi năm để bảo tồn nền Giáo pháp Khất Sĩ, góp phần làm cho Tổ ấn trùng quang, Đạo vàng xán lạn trên thế gian này.

Với tâm đức, hạnh đức thanh tịnh của Ni trưởng, năm 1987, sau khi Ni trưởng Huỳnh Liên – Đệ nhất Trưởng Ni giới. viên tịch, toàn thể Ni giới nhất tâm suy tôn Ni trưởng lên ngôi vị Đệ nhị Trưởng Ni giới Hệ phái Khất Sĩ cho đến ngày viên tịch.

Suốt lộ trình hành đạo, trải bao cuộc dâu bể thăng trầm, Ni trưởng vẫn bình tâm kiên định, vững bền chí nguyện, một lòng nối chí Tổ Thầy tuyên dương giáo pháp, khuyến tấn chư Ni khắp các miền tịnh xá luôn gắn bó, hòa hợp trong lòng Giáo hội, đoàn kết với các đoàn thể quần chúng, chấp hành tốt luật pháp nhà nước, làm tốt đạo đẹp đời. Ni trưởng đã góp phần xây dựng ngôi nhà Phật pháp trường tồn vĩnh cửu, kế thừa sự nghiệp của chư Phật mười phương.

Vào những năm Ni trưởng sắp từ bỏ báo thân, dù thể vóc mòn mỏi nhưng tâm niệm luôn tỉnh giác, đức tinh cần bao giờ cũng rọi sáng tâm Ni trưởng. Hành trình đã sẵn món tư lương, dầu khô, đèn tắt lúc 21 giờ 30 phút ngày 17 tháng 11 năm Bính Tý (Nhằm ngày 26/12/1996), Ni trưởng hưởng thọ 73 tuổi, hạ lạp 50 năm.

 

  • Các tác phẩm:
  • Những chuyện thần quyền và thần bí trong Đạo Phật
  • Con người là ai xuống cõi trần làm chi?

 

0972 873 962